Chẩn đoán bệnh giun lươn dễ hay khó

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Xem: 121 | Cật nhập: 2/25/2021 11:17:21 AM | RSS

Giun lươn trưởng thành có kích thước nhỏ, giun cái và đực thường sống ký sinh ở ruột non của người. Sau khi thụ tinh, giun đực sẽ chết đi và bị thải ra ngoài theo phân.

Giun cái có thể đẻ trứng mà không cần thụ tinh, hiện tượng này gọi là trinh sản. Trứng nở ngay ra ở trong ruột non, khi đó cho ra ấu trùng có thực quản ụ phình, ấu trùng này được thải ra ngoài theo phân để tiếp tục chu trình phát triển ở ngoại cảnh tùy theo từng điều kiện của môi trường, ấu trùng sẽ tiếp tục phát triễn theo chu trình gián tiếp.

Hầu hết các trường hợp bị nhiễm giun lươn có triệu chứng nhẹ hoặc không có triệu chứng. Bệnh chỉ trở nên quan trọng khi mà người bệnh bị triệu chứng suy giảm miễn dịch, đặc biệt khi bệnh nhân được điều trị với corticoides dài ngày.

Ấu trùng giun lươn di chuyển dưới da

Ấu trùng giun lươn di chuyển dưới da

Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun lươn

Giai đoạn ấu trùng xuyên qua da và chu du trong cơ thể thì chưa có biểu hiện gì đáng kể. Vào giai đoạn toàn phát, bệnh chủ yếu là bệnh của đường tiêu hóa, đau bụng nhiều, vùng thượng vị, tiêu chảy xen kẽ với táo bón. Phân có lẫn mỡ, điều đó nói lên tính chất rối loạn hấp thu của ruột.

Có thể ngứa, mất cân, suy nhược.

Do nhu cầu tự nhiễm nên KST được tích tụ nhiều trong các cơ quan như gan, phổi, cơ tim, hạch.

Diễn biến trở nên ác tính của bệnh giun lươn xảy ra ở người mang giun nhưng lại dùng thêm thuốc gây giảm miễn dịch dài ngày hoặc trên ngưởi bị nhiễm HIV/AIDS. Khi đó giun lươn sẽ bộc phát, hiện diện khắp cơ thể, cả trong dịch não tủy, dễ gây tử vong.

Đau, rát vùng thượng vị

Đặc biệt là có triệu chứng tiêu chảy, phân dạng lỏng như kéo dài, không đáp ứng được điều trị với các loại thuốc điều trị tiêu chảy có thể giúp nghĩ đến chuyện giun lươn.

Phổi: bị viêm phổi,có thể bị sốt, hoặc ho, khó thở, khò khè. Đôi khi áp -xe phổi.

Nhiễm trùng huyết: sự di chuyển của ấu trùng 2 đi từ lòng ruột vào trong mạch máu đem theo những vi khuẩn vào dòng máu của người bệnh và gây nhiễm trùng huyết cùng với sốc nhiễm trùng. Vi khuẩn gây ra thường nhất là vi khuẩn E.coli và các dạng vi khuẩn khác như: Klebsiella spp, Pseudomonas aeruginosa.

Một số những xét nghiệm chẩn đoán bệnh giun lươn

a) Tìm ấu trùng có thực quản ụ phình : bằng các phương pháp sau

Soi phân trực tiếp, có thể thấy ấu trùng di động trong vi trường. Cần phân biệt được đâu là ấu trùng có thực quản phình của giun lươn với ấu trùng giai đoạn I của giun móc.

Ấu trùng giun lươn

Giun lươn soi kính hiển vi

Tập trung trứng theo kỹ thuật Baermann: kỹ thuật này dựa trên đặc tính ưa nước và nhiệt độ của ấu trùng. Đối với kỹ thuật Baermann khi thực hiện mất khoảng 3 giờ.

Hút dịch tá tràng cũng được chỉ định dùng để tìm ấu trùng giun lươn khi cần thiết.

b) Huyết thanh chẩn đoán thường có phản ứng chéo với các loài giun sán khác và giun chỉ. Sự tăng hay giảm của bạch cầu toan tính giúp theo dõi tiến trình của bệnh và đánh giá sự tự nhiễm của bệnh giun lươn.

c) Chẩn đoán miễn dịch học: sử dụng kháng nguyên thô hay tinh chế được điều chế từ ấu trùng giai đoạn 2 (filariform) sẽ phát hiện kháng thể giun lươn, xét nghiệm máu với kỹ thuật ELISA (có độ nhạy 93%, độ đặc hiệu 95%) hiệu giá 1/800 trở lên xem như dương tính.

KTV. KHƯƠNG VY